QUÂN SỰ

Mỹ và Anh sợ nhất ngư lôi nào của Nga?

ĐẤT VIỆT   10/07/2020 • 08:03

Mỹ xếp ngư lôi 'Futliar' của Nga là một trong bốn loại vũ khí nguy hiểm nhất.

Trong ảnh: ngư lôi của một tàu chống ngầm lớn của Nga (Ảnh: Sergey Malgavko / TASS)

Aaron Amik - một chuyên gia trong lĩnh vực thủy âm học của Mỹ, trong một bài viết cho ấn phẩm The Drive, đã gọi ngư lôi vạn năng, tự điều khiển, hoạt động ở độ sâu (UGST) 'Physicist' của Nga là một trong những ngư lôi tốt nhất thế giới.

Ở đây, ông Aaron Amik đang nói về ngư lôi 'Futliar'. Sự nhầm lẫn ở đây cũng dễ hiểu, vì việc hiện đại hóa nhằm tăng cường khả năng chiến đấu của 'Physicist' đã diễn ra theo mã số là 'Physicist-2'. Tuy nhiên, ngư lôi này vẫn được gọi là 'Futliar'.

Có thể nói, ngư lôi 'Physicist' xuất hiện gần như từ đầu. Nghĩa là, sau một thời gian ngừng trang bị vũ khí khá lâu từ năm 2015, Nga mới thông qua một loại ngư lôi nhiệt.

Sở dĩ có chuyện đó là do sau vụ tai nạn trên tàu ngầm Kursk, người ta đã có định kiến ​​đối với ngư lôi nhiệt. Nguyên tắc xây dựng động cơ ngư lôi sử dụng nhiên liệu lỏng một thành phần này được coi là cực kỳ nguy hiểm khi vận hành.

Và người ta thích ngư lôi điện chạy bằng pin hơn, mặc dù chúng kém hơn đáng kể so với ngư lôi nhiệt về thời gian làm việc.

Vì vậy, ngư lôi vạn năng điện phổ biến UEST-80 có tầm bắn chỉ 18 km đã được thay thế bởi 'Physicist', và bây giờ là 'Futliar', có tầm bắn gần gấp ba lần.

Các phẩm chất chiến đấu của 'Physicist', và sau đó là 'Futliar', được chứng minh bằng các kế hoạch trang bị các ngư lôi này trước hết là cho các tàu ngầm hạt nhân chính 'Yasen''Borey' của Nga.

'Physicist' đã có mặt trong hải quân của Nga trong gần 30 năm. Sự phát triển của ngư lôi này bắt đầu vào năm 1986 tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật tàu biển, là một phần trong tổ hợp 'Vũ khí ngầm dưới biển-các công cụ thủy lực'.

Nhưng sau năm 2000, liên quan đến việc nổ 'ngư lôi cỡ bự' Số 65-76 cỡ nòng 650 mm trên tàu Kursk (đây là giả thuyết chính thức, nhưng không phải tất cả các chuyên gia đều nhất trí với nhận định này), những công việc về 'Physicist' đã bị đóng băng.

Ngư lôi 'Opal' đã kết thúc sự nghiệp phục vụ vào cuối những năm 2000. Và 29 năm sau khi bắt đầu phát triển, UGST 'Physicist' đã được thông qua. Tuy nhiên, nó không hề bị lỗi thời.

Ba năm sau, bản sửa đổi của 'Futliar' đã ra đời với các đặc tính được cải thiện 5-10% so với ngư lôi cũ 'Physicist'. Và nó cũng được phát triển tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật tàu biển.

Tốc độ tối đa của 'Futliar' là 65 hải lý và phạm vi hoạt động đạt 60 km. Động cơ tua-bin khí của nó sử dụng nhiên liệu lỏng một thành phần Otto-fuel, có thể phát triển công suất lên đến 800 mã lực.

Cỡ nòng- 533 mm. Chiều dài của ngư lôi là 7,2 m. Khối lượng là 2,2 tấn. Đầu đạn chứa 300 kg chất nổ, thừa đủ để gây thiệt hại nghiêm trọng nhất cho tàu ngầm và tàu mặt nước.

Thiết bị đẩy không phải là chân vịt, mà là thiết bị đẩy tia nước. Nhờ đó, ngư lôi có khả năng tàng hình tuyệt vời. Độ sâu làm việc tối đa của nó là 480 m. Việc phóng ngư lôi được thực hiện từ độ sâu 400 m.

Hệ thống homing của 'Futliar' hiện vẫn chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, có thể sử dụng dữ liệu trên hệ thống này của ngư lôi 'Physicist', có lẽ chúng không khác nhau đáng kể.

Ngư lôi có thể điều khiển từ xa bằng dây dẫn. Có hai dây cáp nằm trên các cuộn dây khác nhau. Chiều dài của dây dẫn thứ nhất là 25 km, dây thứ hai là 5 km.

TIN TÀI TRỢ

Ăng ten của hệ thống tự dẫn được đặt ở phía trước ngư lôi. Vị trí của ăng ten được thực hiện bằng phương pháp chủ động-thụ động. Đồng thời, ngư lôi không chỉ phản ứng với tiếng ồn của các loại động cơ, chân vịt và bộ máy của tàu thuyền, mà còn dõi theo cả dấu vết đường rẽ nước của tàu mặt nước.

Hệ thống homing bắt các mục tiêu tàu mặt nước từ khoảng cách 1,2 km, còn đối với mục tiêu dưới nước là 2,5 km. Ngòi nổ hoạt động từ xa, cho nổ ở khoảng cách vài mét từ mục tiêu bị tấn công.

Vì vậy, vị chuyên gia người Mỹ đã hoàn toàn đúng khi lưu ý rằng ngư lôi này là một trong những loại tốt nhất hiện có. Nó có phạm vi hoạt động và tốc độ tuyệt vời. Tiếng ồn thấp và có một hệ thống tự dẫn hiệu quả.

Trước năm 2002 đã có loại ngư lôi có tên là 'Kit'. Nó đã được trang bị cho một số tàu ngầm của hải quân Nga, đặc biệt là tàu ngầm Kursk. Năm 2002, loại ngư lôi này đã được gỡ bỏ khỏi trang bị.

Trong số các ngư lôi tốt nhất, Aaron Amik có liệt kê ngư lôi Spearfish của Anh, SeaHake Mod 4 của Đức và F21 của Pháp. Tất cả đều có cỡ nòng 533 mm.

Ngư lôi nhiệt Spearfish của Anh được công ty BAE Systems phát triển trong hơn 20 năm do sự chậm trễ và thậm chí có lúc đã phải dừng công việc lại liên quan đến cung cấp tài chính. Ngư lôi này xuất hiện vào đầu những năm 2000. Nó có tốc độ tuyệt vời vượt quá 60 hải lý.

Còn trong các thử nghiệm, nó đã có lúc nâng tốc độ lến đến 70 hải lý. Phạm vi hoạt động tối đa là 54 km. Khối lượng của đầu đạn là 300 kg. 300 kg gần như là tiêu chuẩn cho hầu hết tất cả các ngư lôi 533 mm. Và việc điều khiển cũng được thực hiện trên hai dây cáp.

Ngư lôi điện SeaHake Mod 4 của Đức do công ty Atlas Electronik chế tạo năm 2012 là bản sửa đổi kỷ lục của ngư lôi tiền nhiệm - DM2A4. Do chiều dài của vỏ ngư lôi tăng đáng kể nên có thể tăng thêm số lượng pin.

Liên quan tới thay đổi này, phạm vi hoạt động của nó đạt tới 140 km, được xác nhận trong các thử nghiệm. Trong khi đó, các nhà thiết kế tuyên bố rằng phạm vi hoạt động của ngư lôi có thể đạt tới 185 km.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, không thể điều khiển ngư lôi từ xa bằng mọi cách, vì chiều dài của dây cáp chỉ được thiết kế cho 140 km. Tốc độ tối đa là 50 hải lý.

Hệ thống hướng dẫn bao gồm bộ điều chỉnh chuyển động GPS. Vì vậy, trên đường đi của ngư lôi, ăng-ten nhiều lần nhô lên mặt nước. Sonar thụ động được sử dụng ở gia đoạn cuối cùng.

Ngư lôi F21 Artemis của Pháp, do công ty DCNS chế tạo cũng là ngư lôi điện. Đây không phải là nguyên bản, vì nó là bản sửa đổi ngư lôi Black Shark của Ý, được sản xuất từ ​​năm 2004 cho cả Hải quân Ý lẫn để bán. F21 đã phục vụ trong Hải quân Pháp được 4 năm.

Tốc độ của nó phát triển tới 50 hải lý. Phạm vi hoạt động tối đa là 50 km. Nghĩa là, giống như những đặc điểm của ngư lôi 'Physicist' của Nga.

Sự yếu kém của các loại pin điện tử của Nga so với cả F21 và SeaHake Mod 4 được giải thích là do trong nước thiếu loại ac quy có mức sạc lớn. Nếu dùng ac quy chì, ngư lôi sẽ không thể đi xa được. Ngư lôi của Pháp hiện đang sử dụng ac quy bạc-hydro-nhôm.

Ngư lôi của Pháp dài 6 mét và nặng 1,3 tấn. Hệ thống điều khiển sử dụng hệ thống âm chủ động- thụ động. Điều dẫn thông qua dây cáp quang.

Cần phải kể thêm một loại ngư lôi thú vị nữa là ngư lôi MU90 IMPACT. Nó được chế tạo bởi tập đoàn EuroTorp, bao gồm các công ty của Ý và Pháp. Hiện loại ngư lôi này đang phục vụ cho Hải quân Ý, Pháp, Đức, Đan Mạch, Ba Lan và Úc.

Đây là loại ngư lôi điện nhẹ. Nó có cỡ nòng 324 mm và chiều dài 2,85 m. Trọng lượng 304 kg. Nhưng, độ sâu làm việc của nó là hơn 1000 mét. Tốc độ đạt 50 hải lý. Phạm vi hoạt động ở tốc độ tối thiểu là 25 km, còn ở tốc độ tối đa là 10 km.

Theo Tất Thịnh (Tổng hợp)/Đất Việt Link Gốc:           Copy Link
http://baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/my-va-anh-so-nhat-ngu-loi-nao-cua-nga-3411191/

Thích

Tags: ngư lôi | phạm vi | hệ thống | phát triển | sử dụng | chiều dài | Tàu ngầm | dây cáp | công ty | đáng kể

MỚI NHẤT

goto top